SPECIES COMPOSITION AND DENSITY FLUCTUATION OF LIZARDFISHES EGGS AND LARVAE (SYNODONTIDAE) IN THE TONKIN GULF AREAS OF VIETNAM

Pham Quoc Huy
2017 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển  
Ngày nhận bài: 21-6-2016 TÓM TẮT: Cá mối được khai thác chính bằng nghề lưới kéo đáy và nghề lưới rê đáy ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. Qua 16 chuyến điều tra, thu mẫu giai đoạn sớm ở vùng biển Bắc Bộ từ năm 2011-2013, đã xác định được 4 loài và 1 nhóm loài trứng cá, cá con thuộc họ cá mối là: Loài cá mối thường (Saurida tumbil), loài cá mối vạch (S. undosquamis), loài cá mối ngắn (S. elongata), loài cá mối hoa (Trachinocephalus myops) và nhóm cá mối (Synodus spp. và Saurida sp.). Số lượng và tần
more » ... Số lượng và tần suất bắt gặp trứng cá, cá con họ cá mối có sự biến động qua các năm. Mật độ trứng cá cá con có xu hướng giảm dần theo thời gian, dao động từ 584 trứng cá đến 74.272 trứng cá/1.000 m 3 nước biển và từ 30 cá con đến 1.785 cá con/1.000 m 3 nước biển. Biến động về mật độ thể hiện tương đối rõ theo mùa gió. Trứng cá, cá con thuộc họ cá mối phân bố chủ yếu ở vùng biển phía bắc vịnh Bắc Bộ. Trong mùa gió Đông Bắc, trứng cá thường tập trung ở khu vực Bạch Long Vĩ và rải rác ở khu vực gần giữa vịnh; cá con thì xuất hiện nhiều ở vùng ngoài khơi Thanh Hóa -Nghệ An và phía nam đảo Bạch Long Vĩ. Sang mùa gió Tây Nam, trứng cá, cá con có xu thế tập trung ở khu vực gần bờ: Vùng biển ven bờ Quảng Ninh, xung quanh đảo Cát Bà và ven bờ Thanh Hóa -Hà Tĩnh. Từ khóa: Trứng cá cá con, họ cá mối Synodontidae, vịnh Bắc Bộ.
doi:10.15625/1859-3097/17/2/8418 fatcat:esnhmbdvzfea7ktddwqwzx4jba